THUẾ SỬ DỤNG ÐẤT NÔNG NGHIỆP
| I. KHÁI NIỆM THUẾ SỬ DỤNG ÐẤT NÔNG NGHIỆP |
Thuế nông nghiệp ở nước ta được ban hành ngày 11/5/1951
theo sắc lệnh số 031/SL của chủ tịch nước và được áp dụng
trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong thời kỳ xây
dựng chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc và đấu tranh giải phóng dân
tộc ở Miền Nam, sắc lệnh thuế nông nghiệp đã được bổ sung
và sửa đổi cho phù hợp với nhiệm vụ xây dựng và cải tạo
nền kinh tế nước nhà. Theo sắc lệnh này, thuế nông nghiệp được
coi là thuế hoa lợi trên đất.
Ðầu năm 1983, Nhà nước ban hành Pháp lệnh thuế nông
nghiệp áp dụng thống nhất trong cả nước. Tuy nhiên, để phù
hợp với cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp, từ năm 1989 Nhà nước
đã ban hành Pháp lệnh sửa đổi bổ sung Pháp lệnh về thuế nông
nghiệp để chuyển từ hình thức hoa lợi trên đất sang thuế bao
hàm cả thuế đất và thuế hoa lợi trên đất. Việc chuyển nến
kinh tế từ bao cấp sang nền kinh tế thị trường đòi hỏi phải
đổi mới toàn diện mọi mặt quản lý kinh tế của đất nước
trong khi Pháp lệnh thuế nông nghiệp năm 1983 và Pháp lệnh sửa đổi
bổ sung năm 1989 đã bộc lộ nhiều hạn chế và tỏ ra không phù
hợp. Ðể khuyến khính sử dụng đất nông nghiệp có hiệu qủa,
đảm bảo thực hiện công bằng, hợp lý trong việc đóng góp thu
nhập cuả các tổ chức, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp , ngày
10/7/1993 Quốc hội khóa 9 kỳ họp thứ III đã thông qua Luật
thuế sử dụng đất nông nghiệp và có hiệu lực thi hành từ
1/1/1994. Chính phủ đã có Nghị định số 73, 74 ngày 25/10/1993 và
Bộ tài chính có Thông tư số 89 ngày 9/1/1993 hướng dẫn thi hành
chi tiết Luật thuế sử dụng đất nông nghiệp.
Như vậy, thuế sử dụng đất nông nghiệp gồm thuế đất
và hoa lợi trên đất, chủ yếu nhằm vào sản xuất nông nghiệp.
| II. ÐỐI TƯỢNG NỘP THUẾ VÀ CHỊU THUẾ SỬ DỤNG ÐẤT NÔNG NGHIỆP |
| 1. Ðối tượng nộp thuế. |
Theo
quy định của pháp luật hiện hành, tổ chức, cá nhân sử dụng
đất vào mục đích sản xuất nông nghiệp đều phải nộp thuế
sử dụng đất nông nghiệp.
Hộ
được giao quyền sử dụng đất nông nghiệp mà không sử dụng
vẫn phải nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp.
Tổ
chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vào Việt Nam có sử dụng đất
nông nghiệp thì phải nộp tiền thuê đất tại Việt Nam, không
phải nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp theo quy định của
Luật này.
| 2. Ðối tượng chịu thuế. |
Việc
xác định đối tượng chịu thuế sử dụng đất nông nghiệp
được thực hiện trên nguyên tắc đất dùng vào sản xuất nông
nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản thì phải chịu thuế
sử dụng đất nông nghiệp. Dựa theo nguyên tắc này, Luật thuế
sử dụng đất nông nghiệp quy định đối tượng chịu thuế bao
gồm:
Ðất
trồng trọt.
Ðất
có mặt nước nuôi trồng thủy sản.
Ðất
rừng trồng.
| 3. Ðối tượng không thuộc diện chịu thuế. |
Nhằm phân biệt rõ phạm vi đất chịu thuế sử dụng đất
nông nghiệp, Nhà nước quy định các loại đất sau đây không
chịu sự điều chỉnh của Luật thuế sử dụng đất nông
nghiệp:
Ðất
có rừng tự nhiên.
Ðất
đồng cỏ tự nhiên.
Ðất
ở.
Ðất
chuyên dùng.
| III. CĂN CỨ TÍNH THUẾ |
Số thuế sử dụng đất nông nghiệp phải nộp được xác
định dựa trên những căn cứ nhất định, đó là: diện tích đất,
hạng đất và định suất thuế.
| 1. Diện tích tính thuế. |
Diện
tích tính thuế sử dụng đất nông nghiệp là diện tích giao cho
hộ sử dụng đất phù hợp với sổ địa chính Nhà nước. Trường
hợp chưa lập sổ địa chính thì diện tích tính thuế là diện tích
ghi trên tờ khai của hộ sử dụng đất.
| 2. Hạng đất tính thuế. |
Căn
cứ để xác định hạng đất gồm các yếu tố sau:
Chất
đất.
Vị
trí.
Ðịa
hình.
Ðiều
kiện khí hậu, thời tiết.
Ðiều
kiện tưới tiêu.
Hạng
đất tính thuế được ổn định 10 năm. Ðối với những vùng Nhà
nước có đầu tư lớn, đem lại hiệu qủa kinh tế cao, Chính
phủ sẽ điều chỉnh lại hạng đất. Căn cứ vào tiêu chuẩn
của từng hạng đất và hướng dẫn của UBND Tỉnh, thành phố
trực thuộc Trung ương; Sự chỉ đạo của UBND cấp huyện; UBND
cấp xã xác định hạng đất tính thuế cho từng hộ nộp thuế
sau đó trình cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xét duyệt.
| 3. Ðịnh suất thuế. |
Ðịnh
suất thuế một năm tính bằng kg thóc trên 1 ha của từng hạng đất
như sau:
Ðối
với đất trồng cây hàng năm, đất trồng cỏ dành cho chăn nuôi,
đất có mặt nước nuôi trồng thủy sản nằm trong vùng
trồng cây hàng năm thì tính theo đất trồng lúa:

Ðối
với đất trồng cây lâu năm như cây công nghiệp, cao su, trà,
cà phê, hạt điều:

Ðối
với cây ăn qủa lâu năm trồng trên đất trồng cây hàng năm
chịu mức thuế như sau:
+
Bằng 1,3 lần thuế đất trồng cây hàng năm cùng hạng,
nếu thuộc đất thuộc hạng 1, 2, 3.
+
Bằng thuế đất trồng cây hàng năm cùng hạng, nếu thuộc
đất hạng 4, 5, 6.
Ðối
với cây lấy gỗ và các loại cây lâu năm thu hoạch một lần
như tre nứa, song mây chịu mức thuế bằng 4 % giá trị sản lượng
khai thác.
Các
hộ gia đình sử dụng đất nông nghiệp vượt qúa hạn mức quy
định phải đóng thuế bổ sung trên phần diện tích đất nông
nghiệp vượt qúa hạn mức theo thuế suất 20 % mức thuế sử
dụng đất nông nghiệp.
Hạn
mức đất nông nghiệp của mỗi hộ gia đình được quy định
theo từng loại và theo từng địa phương như sau:
·
Ðối với đất nông
nghiệp để trồng cây hàng năm: thì các Tỉnh thuộc miền Trung và
miền Bắc không qúa 02 ha; các tỉnh thuộc miền Nam không qúa 03
ha.
·
Ðối với đất nông
nghiệp để trồng cây lâu năm: thì các xã đồng bằng không qúa
10 ha; các xã trung du, miền núi không qúa 30 ha.
Căn
cứ tính thuế sử dụng đất nông nghiệp bổ sung là diện tích
đất nông nghiệp sử dụng vượt qúa hạn mức quy định, mức
thuế bình quân cho từng loại đất nông nghiệp và thuế suất
bằng 20 % mức thuế sử dụng đất nông nghiệp.
Ví dụ: Một hộ nông dân ở Cần Thơ có sử dụng 4 ha ruộng thuộc loại đất hạng 2 thì mức thuế sử dụng đất nông nghiệp vượt qúa hạn mức theo thuế suất sử dụng đất nông nghiệp tính như sau:

| IV. MIỄN, GIẢM THUẾ |
Ðể khuyến khích nông nghiệp phát triển sản xuất nông
nghiệp theo hướng đẩy mạnh thâm canh tăng năng suất, tăng vụ,
chuyển đổi cây trồng có hiệu qủa và tận dụng đất đai, khai
thác đồi núi trọc, đầm lầy, bãi bồi, đất ở vùng cao miền
núi...đưa vào sản xuất, thuế sử dụng đất nông nghiệp hiện
hành thực hiện điều khoản miễn, giảm thuế cho nông dân.
| 1. Miễn thuế. |
Miễn
thuế cho đất đồi núi trọc dùng vào sản xuất nông nghiệp,
lâm nghiệp, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng.
Ðất
trồng cây lâu năm chuyển sang trồng lại mới và đất trồng
cây hàng năm chuyển sang trồng cây lâu năm, cây ăn qủa được
miễn thuế trong thời gian xây dựng cơ bản cộng thêm 3 năm
kể từ khi có thu hoạch.
Ðất
khai hoang dùng vào sản xuất. Thời gian miễn thuế được quy
định cụ thể cho từng loại đất và tùy thuộc vào mục đích
sử dụng. Cụ thể:
+
Ðối với đất trồng cây hàng năm thời gian miễn thuế là 5 năm
và 7 năm nếu là đất ở miền núi, đầm lầy, lấn biển.
+
Ðối với đất trồng cây lâu năm: được miễn thuế trong thời
gian xây dựng cơ bản cộng 3 năm kể từ khi có thu hoạch hoặc
chỉ miễn trong thời gian chưa có thu hoạch nếu đó là cây lâu năm
thu hoạch 1 lần.
+
Ðối với đất khai hoang bằng nguồn vốn cấp phàt của Ngân sách
Nhà nước dùng vào sản xuất nông nghiệp cũng được miễn thuế
sử dụng đất nông nghiệp như đối với đất khai hoang nhưng
thời gian ít hơn.
Các
hộ gia đình di chuyển đến vùng kinh tế mới được giao đất
sản xuất nông nghiệp cũng được miễn thuế với thời gian tùy
thuộc vào tính chất và mục đích sử dụng đất.
Ngoài
các trường hợp nêu trên, việc miễn thuế sử dụng đất nông
nghiệp còn được áp dụng cho các đối tượng diện chính sách
như các hộ nông dân ở vùng núi, biên giới, hải đảo, vùng dân
tộc thiểu số hoặc các hộ nông dân là người tàn tật, già
yếu, cô đơn, không nơi nương tựa, không có khả năng lao động
và các hộ nộp thuế có thương binh hạng 1/4, 2/4, bệnh binh 1/3 và
2/3 mà đời sống còn rất khó khăn. Hộ gia đình liệt sĩ có người
hưởng trợ cấp sinh hoạt phí nuôi dưỡng theo quy định hiện hành.
| 2. Giảm thuế. |
Giảm
tối đa không qúa 50 % số thuế cho hộ nông dân sản xuất ở
vùng cao, miền núi, biên giới, hải đảo, các hộ nông dân
thuộc dân tộc thiểu số mà sản xuất và đời sống còn
nhiều khó khăn ngoài đối tượng được miễn nêu trên.
Giảm
thuế cho hộ nộp thuế có thương binh, bệnh binh.
Trường
hợp thiên tai, địch họa làm thiệt hại mùa màng, thuế sử
dụng đất nông nghiệp được miễn hoặc giảm cho từng hộ
nộp thuế theo từng vụ sản xuất như sau:
+
Thiệt hại từ 10 % đến 20 %, giảm thuế tương ứng theo mức
thiệt hại.
+
Thiệt hại từ 20 % đến dưới 30 %, giảm thuế 60 %.
+
Thiệt hại từ 30 % đến dưới 40 %, giảm thuế 80 %.
+
Thiệt hại từ 40 % trở lên, miễn thuế 100 %.
Ðối
với những hộ chính sách đã được xét giảm thuế theo quy định
mà bị thiệt hại do thiên tai, địch họa thì thực hiện xét
giảm thuế theo diện chính sách trước, sau đó mới xét giảm
do thiên tai. Mức giảm tối đa không qúa 50 % số thuế ghi thu.
Danh sách các hộ được đề nghị miễn, giảm thuế của xã phải được niêm yết để nhân dân tham gia ý kiến trong thời hạn 20 ngày trước khi trình UBND cấp trên duyệt. Quyết định miênự, giảm thuế của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phải được niêm yết công khai.